Thách thức hội nhập – Kỳ I: Còn nhiều nỗi lo

0
335

(AGO) – LTS: Hội nhập mang đến nhiều cơ hội cho kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, với điều kiện chất lượng nguồn nhân lực, trình độ tay nghề, phương thức sản xuất như hiện nay, nếu không có sự thay đổi, chuẩn bị tốt hơn, hội nhập có thể lại trở thành nỗi lo. Để biến thách thức thành cơ hội, biến áp lực thành động lực, đòi hỏi sự chung sức của cả hệ thống chính trị và cộng đồng.

Từng đứng đầu ĐBSCL về tỷ trọng đóng góp GDP (tổng sản phẩm quốc nội) vào năm 2000, An Giang đã rơi xuống vị trí thứ 5 (sau Cần Thơ, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang) do tốc độ tăng trưởng liên tục thấp trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề thấp hơn bình quân chung của cả nước, tạo ra nhiều thách thức trong hội nhập.

Gần hơn với thế giới

Theo nghiên cứu của chuyên gia Vũ Thành Tự Anh (Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhà nghiên cứu cao cấp của Chương trình Việt Nam, thuộc Trường quản lý Nhà nước Havard Kennedy) và các cộng sự, kể từ thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO, năm 2007) đến nay, Việt Nam càng có điều kiện hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. “Việt Nam đã đàm phán và ký kết thêm các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khuôn khổ ASEAN như: ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Australia và New Zealand, ASEAN – Ấn Độ cùng các hiệp định thương mại song phương như: Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Chile, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – Liên minh thuế quan Nga-Belarus-Kazakstan. Đặc biệt, năm 2015, Việt Nam đã kết thúc đàm phán 2 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các tiêu chuẩn tự do hóa cao, gồm: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và FTA Việt Nam – EU (EVFTA). Vào cuối năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN đã được hình thành, tạo ra một thị trường thống nhất và cơ sở sản xuất chung cho ASEAN. Đây là một khu vực kinh tế cạnh tranh, phát triển kinh tế cân bằng và hội nhập kinh tế toàn cầu. Từ đó, mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế và doanh nghiệp (DN) Việt Nam phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh” – ông Tự Anh đánh giá.

PS.jpg

Lúa gạo là sản phẩm chủ lực của An Giang nhưng tỷ lệ DN tham gia còn ít

Cùng quan điểm này, bà Đào Thị Ngọc, giảng viên Trường đại học Kinh tế – Luật (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), cho rằng, Hiệp định TPP và EVFTA sẽ mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho thị trường hàng hóa Việt Nam vì có sự tham gia của Hoa Kỳ và EU – 2 thị trường mà Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong tổng số hơn 160 quốc gia đối tác thương mại của Việt Nam. “Về nội dung, hiệp định này cũng sẽ thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm tại Việt Nam. Đồng thời, các tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp thương mại của Việt Nam không chỉ tăng trưởng về số lượng mà còn nâng cao về chất lượng. Riêng về các cam kết mở cửa thị trường đối với thương mại hàng hóa, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như nông sản, thủy sản, dệt may… sẽ được hưởng lợi từ cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan hoàn toàn trong vòng 3 năm đối với Hoa Kỳ, trong vòng 7 năm đối với thị trường EU kể từ khi các hiệp định có hiệu lực” – bà Ngọc phân tích.

Áp lực cho An Giang

Chuyên gia Vũ Thành Tự Anh cho rằng, xét trên tổng thể, An Giang có nhiều lợi ích khi các FTA được ký kết, đặc biệt là TPP, EVFTA và RCEP (ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand). “Nông sản và thủy sản là 2 thế mạnh của An Giang, còn dệt may thì đang phát triển. Tuy nhiên, có một nghịch lý là mới chỉ có 3,41% DN ở An Giang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp, còn tỷ lệ DN trong ngành thủy sản chỉ chiếm 0,23% tổng số DN của tỉnh. Dù lúa và thủy sản là 2 ngành xuất khẩu chủ đạo của An Giang, kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh nhưng đa số các DN hoạt động trong lĩnh vực này lại là những DN nhỏ và siêu nhỏ, sức cạnh tranh yếu hơn rất nhiều so các tập đoàn nước ngoài” – ông Tự Anh chia sẻ.

Cùng với nỗi lo về quy mô, sức cạnh tranh của DN An Giang thì chất lượng nguồn nhân lực cũng là vấn đề đáng bàn. Dù so với ĐBSCL, lực lượng lao động qua đào tạo của An Giang có tỷ lệ cao hơn nhưng so bình quân cả nước, chất lượng nguồn nhân lực của An Giang vẫn còn thấp. “Người lao động chưa qua đào tạo đã đành, trình độ học vấn và đào tạo của các chủ DN ở An Giang nói riêng, ĐBSCL nói chung kém hơn hẳn so với các vùng khác trong cả nước. Cùng với đó là trình độ ứng dụng công nghệ và công nghệ thông tin của các cơ sở sản xuất – kinh doanh còn thấp, dẫn đến công nghệ lạc hậu, năng lực sản xuất yếu, chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí trung gian lớn… Đây là những thách thức không nhỏ khi các DN nước ngoài tiến vào ồ ạt” – chuyên gia Vũ Thành Tự Anh lưu ý.

NHÓM PV KINH TẾ