Tìm thị trường cho nông sản an toàn

0
249

(AGO) – Thị trường trong nước và quốc tế luôn rộng cửa cho nông sản an toàn. Vấn đề là cần có đầu mối chịu trách nhiệm về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, kết nối thị trường để nâng cao giá trị cho nông sản Việt Nam. Trong đó, vai trò của doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX) là quan trọng nhất.

Chú trọng chất lượng

Là người nghiên cứu sâu về nông sản, PGS.TS. Paul Kristiansen, Trường đại học (ĐH) New England Armidale (Úc), cho rằng, xu hướng và nhu cầu về nông sản an toàn của thế giới đang tăng trưởng nhanh. So với các nước trong khu vực Châu Á, Việt Nam có nhiều lợi thế về sản xuất lương thực, rau, quả, thực phẩm tươi sống… Tuy nhiên, điều bất lợi là phần lớn nông dân sản xuất tự phát, dựa vào kinh nghiệm, chưa kiểm soát tốt về nguồn gốc, quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, đòi hỏi về chất lượng nông sản an toàn, nông sản hữu cơ ngày càng khắt khe, đòi hỏi các khâu từ sản xuất đến thu hoạch, chế biến, xuất khẩu cần tuân thủ các tiêu chuẩn được nhiều quốc gia chấp nhận. “Ví dụ như ở Úc, tất cả sản phẩm nông sản đều phải đạt tiêu chuẩn an toàn, được cấp chứng nhận, kể cả sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tiêu chuẩn cấp chứng nhận ở Úc cũng được nhiều quốc gia nhập khẩu chấp nhận. Nông sản Việt Nam cần phải chú ý đến vấn đề này. Mà muốn định hướng nông dân sản xuất nông sản an toàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế, DN tư nhân phải tham gia kết nối với các nhà nhập khẩu, tìm hiểu yêu cầu của họ. Thông qua HTX, DN đặt hàng nông dân canh tác và cùng nhau kiểm soát quy trình sản xuất. HTX phải được tổ chức như một DN, giữ vai trò đầu mối cung ứng nông sản an toàn cho DN xuất khẩu” – PGS.TS. Paul Kristiansen chia sẻ.

Từng là nghiên cứu sinh tại Thụy Điển, TS. Châu Thi Đa (Trường ĐH An Giang) băn khoăn: “Việt Nam là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng vào các siêu thị tại Châu Âu, không hề thấy tên gạo nào của Việt Nam. Ví dụ như Việt Nam sản xuất gạo Jasmine rất nhiều, chất lượng ngon nhưng thấy toàn gạo Jasmine Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar… Khoảng hơn 20 năm trước, nhiều gia đình canh tác có 1 vụ lúa/năm vẫn đủ ăn nhưng giờ làm 2 – 3 vụ/năm vẫn khó khăn. Nguyên nhân do đâu?”. Trả lời thắc mắc này, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Đệ (Trường ĐH Cần Thơ) thẳng thắn: “Ở Việt Nam, vẫn có thói quen tính chất lượng gạo dựa vào tỷ lệ tấm. Ví dụ như gạo 5% tấm thì chất lượng hơn gạo 25% tấm. Khi xuất khẩu gạo, DN đấu trộn nhiều loại khác nhau, dựa vào tỷ lệ tấm để định giá bán nên không có thương hiệu. Tuy nhiên, trên thế giới, chất lượng gạo chủ yếu dựa vào tính đồng nhất, truy xuất được nguồn gốc an toàn. Muốn gạo đồng nhất, phải mở rộng diện tích sản xuất lớn cùng một loại giống”.

Phát huy vai trò kinh tế hợp tác

PGS.TS. Dương Văn Chính, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Định Thành (Thoại Sơn) cho rằng, trong điều kiện đất đai như hiện nay, không thể giảm số vụ sản xuất trong năm. “Tính bình quân, diện tích đất trên đầu người ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 Thái Lan. Nếu so với Myanmar, bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp hơn nhiều lần. Do vậy, Việt Nam phải duy trì sản xuất 2 – 3 vụ/năm mới đủ nuôi sống người dân và xuất khẩu. Điều quan trọng là cần hướng dẫn kỹ thuật giúp nông dân giảm chi phí canh tác, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản” – PGS.TS. Dương Văn Chính lý giải.

Bên cạnh vấn đề chất lượng, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn cần phát huy tốt vai trò của DN và HTX. “Từ năm 1996, hệ thống HTX ở Nhật Bản đã chuyển từ nhất nguyên (quản lý chung) sang nhị nguyên (tách riêng vai trò của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc). Việc tổ chức HTX theo mô hình nhị nguyên ở Việt Nam hiện nay khá ổn. Tuy nhiên, điều kiện xuất phát điểm của Việt Nam không giống như Nhật Bản. HTX ở Nhật làm tất cả các dịch vụ, từ đầu vào, đầu ra, khâu tiêu thụ, cho vay vốn… Từ những năm 1950 – 1955, Chính phủ Nhật Bản đã có chính sách khuyến khích nông dân tham gia HTX bằng cách đóng góp mức vốn bằng với số vốn góp của xã viên để giúp HTX mạnh lên. Mấu chốt quan trọng nhất để HTX ở Việt Nam phát triển là phải tăng vốn và năng lực quản lý” – PGS.TS. Nguyễn Ngọc Đệ phân tích.

Cùng quan điểm này, PGS.TS. Dương Văn Chính cho biết, để kích thích nông nghiệp phát triển, Chính phủ Nhật Bản lấy tiền lời từ công nghiệp hỗ trợ cho nông nghiệp. Trong điều kiện công nghiệp Việt Nam chưa đủ mạnh, Nhà nước có thể hỗ trợ nông nghiệp phát triển từ chính nguồn lực đất đai. “Cần phải bỏ quy định hạn điền và có chính sách khuyến khích người dân, DN, HTX tích tụ đất đai, khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất. Tôi biết có chủ DN ở Long An tích tụ “chui” cả ngàn héc-ta để trồng chuối xuất khẩu. Còn ở An Giang, chuyện tích tụ “chui” vài trăm héc-ta bằng cách nhờ người thân đứng tên trong mức hạn điền là bình thường. Về lâu dài, cách làm này rất dễ phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp trong anh em, dòng tộc. Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu về đất đai nhưng có thể cho phép người dân, DN mua bán, cho thuê quyền sử dụng đất. Trên diện tích đất rộng lớn, dễ dàng ứng dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học công nghệ thì câu chuyện sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, giảm chi phí, tăng chất lượng không quá khó” – PGS.TS. Dương Văn Chính đề nghị.

 NGÔ CHUẨN (Theo http://www.baoangiang.com.vn/)